Monday, June 13, 2016

CHUẨN ÐỀ BIỆT PHÁP

 
TỊNH PHÁP GIỚI ẤN:Trước hết lấy tay trái, ngón trỏ, ngón vô danh, ngón út, ba ngón để trong lòng bàn tay, lấy ngón tay cái nắm trên đầu ngón tay trỏ, ngón vô danh và ngón út. Tay mặt cũng vậy, hiệp lại bằng nhau, hai ngón tay giữa đứng thẳng, tụng Thần chú.
KIẾT GIỚI ẤN: Hai tay trái, mặt, ngón giữa, ngón vô danh, hướng về bên trong tréo nhau, hai ngón út đứng thẳng, hai ngón tay trỏ đứng thẳng, hai ngón tay cái nắm tiết giữa của ngón tay trỏ, tụng Thần chú.
HỘ THÂN ẤN: Hai tay chấp lại, hai ngón tay trỏ hướng ngoại tréo nhau, ngón tay cái nắm trên tiết giữa của ngón tay trỏ, từ ngón tay giữa xuống ba ngón đứng thẳng hiệp lại. Nếu gặp đạo tặc, đem ấn này để trên đảnh, trước ấn vào vai bên trái, kế ấn vai bên mặt, nơi trước ngực, ấn lên trên đầu xuống giữa mi gian. Quyết định không dám xâm hại.
TRỊ BỊNH ẤN: Hai  ngón tay trỏ, hai ngón tay giữa bốn ngón, hương bên trong tréo nhau, hai ngón vô danh, hai  ngón tay út, bốn ngón hướng bên ngoài thẳng nhau chấp lại, hai ngón tay cái nắm tiết giữa của ngón tay trỏ.
TỔNG NHIẾP ẤN: Tay trái tay mặt, ngón út, ngón vô danh, tréo vào trong lòng bàn tay, hai ngón tay giữa đứng thẳng đầu ngón hiệp nhau, mở hai ngón tay trỏ co vịn vào. Hai ngón tay cái đè lên ngón vô danh. Khi muốn triệu thỉnh, hai đầu ngón trỏ đưa ra vào, dường như hoa đài tọa. Tụng Thần chú 7 biến, dùng ấn hai bên bắp tay gần vai, rồi đến yết hầu, đến dưới mái tóc nơi mi gian. Lại liền để ngang ngực ấn tại nơi tâm, tụng chú 108 biến.
PHÁ THIÊN MA ẤN: Tay trái mặt bốn ngón đe ngón tay cái trong lòng bàn tay hình như cầm cú. Tức là chỗ nào có sự lo sợ, nghi có quỷ mị độc long, tức kiết ấn này tiếng giận hét, tụng Thần chú.
THỈNH QUỶ THẦN ẤN: Tay mặt ngón giữa đè ngón cái, đè đàn, trên các ngón kia đều mở duỗi ra như hình cái răng, ngón tay trỏ hơi cong một chút, ngón tay út ra vào qua lại, tụng Thần chú 7 biến. Ba lần ba biến thì tất cả quỷ thần liền biến.
Tỳ Khưu Thích Viên Ðức hành Du Già hạnh
Dịch xong tại Tịnh thất chùa Dược Sư

Ban Mê Thuột, ngày 7-8 năm Quý Sửu (3-9-1973)
|^|
 
Tây thiên dịch kinh Tam Tạng,
Triệu Tán Ðại phu, Thí Hồng Lô Khanh,
Truyền Pháp Ðại Sư,
Thần Thí Hộ phụng chiếu dịch Phạn ra Hán.
.Sa Môn Thích Viên Ðức dịch thành Việt văn.
 
Tôi nghe như vầy: Một thời Ðức Phật ở tại nước Xá Vệ, rừng cây Kỳ Ðà, vườn Cấp Cô Ðộc. Lúc đó tôn giả A Nan, đắc đại trọng bịnh, Phật Ngài tự biết, liền đến nơi ấy trải tòa mà ngồi, dạy A Nan rằng: “Ông nay lắng nghe, tôi có Thần chú lục tự Ðại Minh, hay tiêu tai hoạn, tăng ích thọ mạng. Ông nếu thọ trì, chẳng những tự thân, còn khiến bốn chúng Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, đêm dài an ổn, xa lìa các khổ.
Lại nữa A Nan, lục tự Ðại Minh Thần chú này, bảy mươi bảy trăm ức Ðức Phật và sáu Ðại Oai Ðức Sư đều đồng tuyên nói. Sáu Ðại Sư ấy: Một là  Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác. Hai  là Ðế Thích Thiên Chủ. Ba là Ða Văn Thiên Vương. Bốn là Trì Quốc Thiên Vương. Năm là Tăng Trưởng Thiên Vương. Sáu là Quảng Mục Thiên Vương. Thánh Hiền như vậy, khác miệng đồng lời, nói Thần chú rằng:
“Nan Ðể Lê Nan Ðể Lê Nan Ðổ Lị Lô Ma Lị Bán Noa Lị Câu Quan Trí Ma Ðộ Ma Ðế Ta Phạ Hạ”.
Phật dạy A Nan, lục tự Ðại Minh Chương Cú này có đại oai lực. Nếu lại có người trong nạn vương pháp sợ hãi, trong nạn nước lửa sợ hãi, trong nạn lửa lớn sợ hãi, trong nạn giặc cướp sợ hãi, trong nạn oan gia sợ hãi, trong các ác nạn sợ hãi, trong chiến đấu sợ hãi, trong nạn ác diệu (sao xấu) sợ hãi, các nạn như vậy khi hại đến thân. Một lòng xưng niệm Ðại Minh Chương Cú, ủng hộ đệ tử … khiến được giải thoát, nói lời ấy rồi, các thứ nạn ấy liền được tiêu trừ.
Lại nữa A Nan, nếu các hữu tình, các bịnh đau nhức, đau đầu, đau cổ, đau mắt, tai mũi, răng nướu lưỡi đau, môi miệng má đau, ngực hông vai đau, tim đau, bụng đau, lưng đau, háng đau, khắp thân đau nhức. Dịch tả kiết lỵ, bịnh trĩ nhọt rò, phong bịnh vàng da, đàm suyễn khó thở, các bịnh nặng dữ. Như trước xưng niệm Ðại Minh Chương Cú, Phật đại oai đức liền sai tất cả Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, La Hán Thánh Hiền, phát lời chân thật, cho đệ tử tên … nên phải ủng hộ, dứt trừ tai hoạn, khiến được an vui. Nơi có đạo kiếm và các thuốc độc, cọp, beo, sư tử, bò cạp, rắn rết, các cầm thú dữ, đều chẳng dám hại; bệnh rét chẳng bị, chẳng trúng thiên thời, cho đến A Ba Ta, Ma La Bộ Ða, Tỳ Xá Tả, Cưu Bàn Trà thảy, tất cả quỷ tướng, đều phải xa lìa, chẳng dám gây hoạn.
Lại nữa A Nan, nếu các hữu tình bị loài quỷ mị, suốt năm chầy tháng mà chẳng bỏ rời, lấy Thần chú này gia trì nơi chỉ, đeo tay người bịnh thì Kim Cang Thủ, Ðại Dược Xoa Chủ dùng sức phẫn nộ, đập đầu quỷ mị, khiến bể bảy phần. Lại còn sai khiến Ðại Trí Xá Lợi Phất, Ðại Thần Thông Mục Kiền Liên, Trì Giới La Hầu La và ông A Nan Ðà đều đến ủng hộ, khiến được an vui. Nếu không được vậy, núi Tu Di Vương, dời đi nơi khác , nước 
đại biển lớn liền phải khô cạn, mặt trời mặt trăng đều phải rơi rớt, quả đất lớn này băng ra từng mảnh. Ðức  Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đều không vọng ngữ. A Nan! Lục tự Ðại Minh Ðà Ra Ni này thần thông oai đức chưa từng có được. Nếu vui mừng nghe học, người ấy thường được sống lâu không bịnh, các ác không hại, huống gì thọ trì đọc tụng, biên chép, cung kính cúng dường. Chính là pháp thành tựu tối thượng tăng ích. A Nan nghe rồi tín thọ phụng hành.
 
 
Khai Nguyên Thập Di biên, lục chép ra trong đời Lương.
Thích Viên Ðức dịch Hán ra Việt.
Như thật tôi nghe, một thời Phật ở tại nước Xá Vệ, trong rừng cây Kỳ Ðà. Lúc bấy giờ có một người nữ ngoại đạo Chiên Ðà La, chuyên làm các ác vẽ phù yếm đảo. Hoặc thờ thần núi, thần cây, quỷ thần dưới gốc cây. Nhật, Nguyệt, Ngũ Tinh, Nam Ðẩu Bắc thần, hết thảy vọng lượng, các ma tà mị. Yếm hoặc tôn giả A Nan Ðà và các người lành khác, hằng hà sa số như vậy. Khi ấy đức Như Lai nhơn thấy ông A Nan Ðà tinh thần hoảng hốt, Ngài vì thương xót tất cả hữu tình ba đời liền nói lục tự Thần chú vương kinh này. Trước chư Phật đã nói, Ta (Phật) nay cũng nói, tức nói chú rằng:
An Ðà Lệ, Bát Ðà Lệ, Ca La Chi Sí Do Lệ, Ðế Xà Bà Ðế, Tần Ðầu Bà Ðế, Ðà Ðầu Lệ, Ðà Cưu Ðế Lệ, Ðà Cưu Ma Ðế, Tu Ma Ðế, An Ðà La Bàn Ðà La, Ðàn Ðà la Ðề Ðâu La, Ðà Na Diên Ðà, Mạn Ðà Bà Ðế, A Na A Na Dạ, Ma Ðậu Ma Bà Ðế, Ca La Tra Sí Do La Phù Ðắng Dà Di, Ðế Ám Bà Ðế, Tần Ðầu Ma Ðế, A La Bà Dà Ðế, Tỳ Tra Tỳ Ðề Nị, Chất Tra Tỳ Ðề Nị, Chất Tra Tỳ Ðề Nị Ta Bà Ha.
Nếu có kẻ nào làm ác chú trù yếm, nếu đã làm rồi, hoặc đang làm. Hoặc trời, hoặc ma, hoặc rồng, hoặc dạ xoa, hoặc la sát, hoặc ngã quỷ, hoặc cưu bàn trà, hoặc phú đơn na, hoặc tỳ xá xà, hoặc a ba ma la, hoặc ưu ba ma la, hoặc kiết giá, hoặc khư ủ đà, hoặc tỳ đà la, hoặc bán tỳ đà la, hoặc Sa Môn, hoặc Bà la môn, hoặc Sát lơị, hoặc Tỳ xá, hoặc thủ đà, hoặc ma đăng già, hoặc ma đăng già nữ, hoặc chiên đà la, hoặc chiên đà la nữ, hoặc tôi tớ, hoặc nam nữ, hoặc ngoại đạo ni càn đà, hoặc ngoại đạo xuất gia nam, nữ, các thứ như vậy v.v…hoặc hay chú ếm trù rủa trùng độc.
Ta (Phật) nay lấy lục tự Thần chú vương kinh này, nếu làm yếm trên trời thì trên trời liền diệt. Nếu làm yếm dưới trời thì dưới trời liền diệt. Nếu hướng trên làm yếm thì hướng trên liền diệt. Nếu hướng dưới làm yếm thì hướng dưới liền diệt. Nếu trên vách làm yếm thì trên vách liền diệt, nếu làm yếm dính nơi vách thì nơi vác liền diệt. Nếu yếm trong đám mây mù thì trong đám mây mù ấy liền diệt. Nếu làm yếm trong hư không thì trong hư không ấy liền diệt. Nếu làm yếm trên mặt đất thì trên mặt đất liền diệt. Nếu yếm dưới đất thì dưới đất liền diệt. Nếu làm yếm tám phương xa thì tám phương xa liền diệt.
Nếu bên trong trên dưới bốn phương làm yếm thì ở trong trên dưới bốn phương liền diệt. Nếu theo ngọn gió thổi làm yếm thì theo trong ngọn gió thổi liền diệt. Nếu bên trong nước bốn biển lớn làm yếm thì bên trong nước bốn biển lớn liền diệt. Nếu trong bên mé sông Hoài sông Hồng làm yếm thì trong bên mé sông Hoài sông Hồng liền diệt. Nếu bên trong bờ đường đi làm yếm thì bên trong bờ đường đi liền diệt. Nếu bên trong các vũng nước làm yếm thì bên trong các vũng nước liền diệt. Nếu bên trong núi, suối, khe, hang, đồi, gò, hầm làm yếm thì bên trong núi, suối, khe, hang, đồi, gò, hầm liền diệt. Nếu bên trong năm núi lớn làm yếm thì bên trong năm núi lớn liền diệt. Nếu bên trong đầm, rừng, gành lớn làm yếm thì bên trong đầm, rừng, gành lớn liền diệt. Nếu bên trong cỏ cây lớn, cây nhỏ làm yếm thì bên trong cỏ cây lớn, cây nhỏ liền diệt. Nếu bên trong rễ nhánh cây cỏ làm yếm thì bên trong rễ nhánh cây cỏ liền diệt. Nếu bên trong đường đi tắt lớn nhỏ làm yếm thì bên trong đường đi tắt lớn nhỏ liền diệt. Nếu bên trong ngã tư đường lớn nhỏ làm yếm thì bên trong ngã tư đường lớn nhỏ liền diệt. Nếu bên trong ngoài cửa thành lớn, thành nhỏ, phường, thôn làm yếm thì bên trong ngoài cửa thành lớn, thành nhỏ, phường, thôn liền diệt.
Nếu trong nội thành lớn, nhỏ, phường, thôn làm yếm thì trong nội thành lớn, nhỏ, phường, thôn liền diệt. Nếu bên ngoài cửa nội ngoại cung làm yếm thì bên ngoài cửa nội ngoại cung liền diệt. Nếu trong cửa cung làm yếm thì trong cửa cung liền diệt. Nếu bên trong mồ mả làm yếm thì bên trong mồ mả liền diệt. Nếu bên trong nhà cửa, liêu, xá, thành, tường làm yếm thì hết thảy đều tiêu diệt. Nếu nơi mái nhà làm yếm thì nơi mái nhà liền diệt. Nếu bên cây cột làm yếm bên cây cột liền diệt. Nếu dưới đá tán cây cột làm yếm thì dưới đá tán cây cột liền diệt. Nếu bên trong đống đất phân yếm thì bên trong đống đất phân liền diệt. Nếu bên trong giếng, bếp, cối giã, cối xay yếm thì bên trong giếng, bếp, cối giã, cối xay liền diệt. Nếu yếm bên trong hỏa lò thì bên trong hỏa lò ấy liền diệt. Nếu yếm bên trong nhà tiêu, chuồng thú thì bên trong nhà tiêu chuồng thú liền diệt. Nếu yếm bên trong dụng cụ xe lớn, xe nhỏ thì bên trong dụng cụ xe lớn xe nhỏ liền diệt. Nếu yếm bên trong đồ phục sức yên ngựa thì bên trong đồ phục sức yên ngựa liền diệt đó. Nếu yếm nơi giường, chõng, áo, mền, nỉ, nệm, giày, mão, nơi bên trong các đồ đựng thì bên trong giường, chõng, áo, mền, nỉ, nệm, giày, mão, các đồ đựng liền diệt. Hoặc bên trong tất cả đồ ăn uống làm yếm thì bên trong tất cả đồ ăn uống liền diệt. Nếu yếm  gần bên người  và nơi tất cả chỗ đi, đứng, nằm, ngồi hết thảy như vậy đều tiêu diệt.
Nếu ngày làm thì ngày diệt, nếu đêm làm thì đêm diệt. Nếu ngày đêm thường làm thì ngày đêm diệt. Thần chú này có công năng đoạn tuyệt Ðế Thích chú đạo, hay đoạn tuyệt Phạm thiên chú đạo, hay đoạn tuyệt Tứ Thiên Vương chú đạo và tất cả các chú đạo huyền thuật đã có của tà quỷ hết thảy đều đoạn dứt. Nếu có bị kẻ nào chú ác yếm trùng, trù rủa cùng độc dược thảy đều tiêu diệt. Hoặc Khư Ủ Ðà, hoặc Tỳ Ðà La, hoặc Kiết Giá, hoặc Phú Ðơn Na đã làm thảy đều đều diệt trừ hết các ác, các thiện trợ giúp. Nguyện nhờ chú này thường được an lành, dùng chơn thật chương cứu này, khiến đệ tử ngày an, đêm an, đêm ngày thường an. Sống lâu trăm tuổi, được thấy trăm thu. Bởi vì sao? Trong thế gian bậc Tối Thượng không ai hơn Phật. Các trời tôn trọng, chúng thần phụng ngưỡng. Nếu có kẻ hành ác chú đạo, nếu đã làm hoặc đang làm, hay trong thời gian làm, hoặc thành tựu hay chưa thành tựu cũng thảy đều tiêu diệt và tất cả các độc hay hại người. Chỗ nào có Lục tự Thần chú Vương Kinh này, hoặc đọc tụng hoặc thọ trì nhớ niệm, các ác nghiệp trọng chướng đã có thảy đều tiêu diệt. Tức nói chú rằng:
Khư Chi Khư Trụ Khư Tỳ Chi, Giam Thọ, Giam Thọ, Ða Chi, Bà Chi, Ta Bà Ha.
Nếu có kẻ nào làm ác trù rủa, nếu đã làm hoặc đang làm. Hoặc Trời, hoặc Rồng, hoặc Dược xoa, hoặc La sát, và tất cả kẻ làm ác chú trù rủa thảy đều tiêu diệt. Hoặc Khư Ủ Ðà, hoặc Tỳ Ðà La, hoặc Phú Ðơn Na đã làm thảy đều tiêu diệt, các ác tiêu tan các thiện trợ giúp, nguyện nhờ chú này thường được an lành, dùng chơn thật Chương Cú này, khiến đệ tử … ngày an đêm an, đêm ngày thường an. Sống lâu trăm tuổi, được thấy trăm thu. Bởi vì sao? Tối thượng trong thế gian không qua phép Phật. Trời người cung kính, chúng ma vâng phụng, ly dục không  nhiễm. Tức nói chú rằng:
Khư Chi Khư Trụ Khư Tỳ Chi, Giam Thọ, Giam Thọ, Ða Chi, Bà Chi, Ta Bà Ha.
Vì cớ sao? Tối thượng trong thế gian không ai hơn Tăng, lương thiện phước điền, hiền Thánh cung kính, các thiện ủng hộ. Tức nói chú rằng:
Khư Chi Khư Trụ Khư Tỳ Chi, Giam Thọ, Giam Thọ, Ða Chi Bà Chi Ðâu Ðế, A Nĩ Ðế, A Châu Ðế, Ta Ba Ha.
Nếu kẻ nào làm ác chú trù rủa, hoặc hòa hợp độc dược, hoặc chơn, hoặc ngụy, đã làm phi pháp. Hoặc thân trước hoặc thân này, làm các ác nghiệp, tất cả trọng tội thảy đều tiêu diệt. Tức nói chú rằng:
Ma hưu bà ô ma đế, ô ma đà đồ đà nĩ, khư ủ đà bà để đồ đà nĩ tần đầu ma đề, chất đế chất đa đề bà đồ đà nĩ, a bệ chiên a bệ, ta bà ha.
Nếu có người hay tụng trì lục tự Thần chú Vương Kinh, giả sử kiến chú vào cây khô, có thể được hoàn sanh nhánh lá, huống gì thân người, khiến người ấy được sống lâu trăm tuổi, được thấy trăm thu. Chư Phật đã nói, A Nan đã truyền. Nếu người đọc tụng thông suốt, đều tự hộ mình, các ác lìa thân, các điều thiện nhóm tụ. Nếu chú nguyện cho người khác, hay trừ các ác khổ hoạn cho  người ấy. Người đọc tụng phải đoạn dứt ngũ tân, chí tâm thanh khiết, nhiên hậu mới làm. Các nạn hung họa không còn dư sót, đều được cát tường lợi ích. Tức nói chú rằng:
Ha ha giá lị, ha ha na di, ha ha phù đà ma đề, ha ha ni ha trá, ni cù sa, ha ha ni ha đà, khư ủ đà, ni tỳ sa khư ủ đà, i nĩ di nĩ, đà tệ, đà đà tệ, ta bà ha.
Kính lễ Tam-Bảo, kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai. Kính lễ hết thảy   Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác. Kính lễ Thánh A Phược Lô Chỉ Ðể Thấp Phạ La Ma Ha Tát Ðỏa, quy mạng như vậy rồi, vậy sau nói Thần chú, mong nhờ Thần chú này thường an lành. Kính lễ Thánh A Phược Lô Chỉ Ðể Thấp Phạ La, quán chiếu thân con (câu này xưng ba lần) thương xót con. Tức nói chú rằng:
Ô ha ni mộ a ni a đà ni a đà tỳ a đà xà tỳ ni đam tỳ ni, an đà lệ, bát đà lệ, tử bì đề, an đà la bà tử ni, tát lục đậu suất tra, ba la đậu suất tra, chất đảm diêm bà dạ, đam bà dạ, ma ha dạ da bà mậu la, đề na mậu giá đề, lô lụ chất tra na đà tử, lô lụ lô lậu chất tra bát đà tử, ta bà ha.
Chú này hay hộ tất cả ách nạn, vô cấu thanh tịnh giải thoát quang minh quán chiếu, cột trói tất cả kẻ tặc làm ác, không có mê hoảng, người niệm lành được cứu độ tất cả các ác ma nạn, hiện đời ủng hộ ngã thân, sư tử, voi điên, cọp beo, chó sói, khỉ, vượn và các ác cầm thú muốn hại người, khiến thảy bị trói. Tôi nay vì đệ tử … và cùng bạn đồng hành. Tất cả chú lực hướng đên chỗ nào đi đứng nằm ngồi nguyện thảy bình an. Tức nói chú rằng:
Tri Hê Rị, Tri Rị, Thâu Rị Ma Ðắng Kỳ, Chiên Ðà Rị Xoa La Xoa La La Da Ta Bà Ha.
Kính lễ Tam-Bảo ắt nguyện chú này, khiến đại cát tường, khéo dùng chú pháp này, ngày đang dùng ấy tắm rửa sạch sẽ, y phục thanh tịnh, thân tâm điềm tĩnh, không được hành dâm, không ăn ngũ tân, không uống rượu thịt, không nói lời ác, phải lấy chỉ trắng, tay nắm giăng ra, tụng chú 7 biến, một biết một gút. Làm dây thành rồi, nếu có quan sự, bị lời thị phi, hoặc gặp tranh cãi, hoặc trù chú rủa, hoặc bàn mưu sàm tấu, vu cáo bậy bạ, và tất cả các ác, lấy chú gút này đeo nơi áo người, những nạn như trên thảy đều tiêu diệt. Sau việc qua rồi, thỉnh Phật Pháp Tăng thiêu các danh hương, trai Phạn cúng dường, thâm tu cầu phước, bi kỉnh báo Phật từ ân, chủ tự mở gút, phát đại nguyện rằng: Con cùng tất cả tứ sanh, vĩnh tuyệt bát nạn, sở nguyện cùng tâm. Tức nói chú rằng:
Hê đậu ma đế da xá bà đế, bà la sa thiên bà đế, ô thọ bà đế, uất đa la ni, a xoa dạ bà đế, a nâu thiên đế mục xí bà la bà mục đế, bà la bà chỉ đậu ta ha.
Kính lễ quá khứ vị lai hiện tại tất cả Thường trụ Tam-Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ tất cả  Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác.
Kính lễ Thánh A Phược Lô Chỉ Ðể Thất Phạt La tiêu phục độc hại cứu khổ đại bi giả.
Kính lễ Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát, Tam Mạn Ða Bạt Ðạt La Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát, Khí Ấm Cái Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Thường Bất Ly Thế Bồ Tát, Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, Hư Không Tạng, Bảo Tràng, Khổng Tước Vương Ðà Ra Ni, Lục Tự Chương Cú, Dược Vương Dược Kiên Ý, Bất Ô Hạnh Ðẳng Bồ Tát Ma Ha Tát. Xưng các danh hiệu quy y như vậy, hết thảy Thánh chúng đắc đạo. Vậy sao nói Ðà Ra Ni Thần chú này. Tức nói chú rằng:
Ca ra ni ma đế, tỳ dũ đa ni, dà đế bà ra tỳ, da xá thủ la bà lệ, đà đề nâu đề tán đà bà đề, xá đà mục khư, uất đa la ni, xá đà bà ra tỳ xá tỳ thiên đà, ca rị xa, bà tát na bà dà đế, cưu xá la bà bà ni, a nâu sang đế tỳ san đế tri đế, a tri đế, than na dà đế, a than na dà đế, a bà ta rị, a xá ta ra nĩ, bà la nĩ mục lệ, mâu ra mâu ra bà đà lệ, xá ni bà ra lục, tu lê bà đế thù đế bà la lục, tu tỳ ma lệ yêm ma lệ, ta ha.
Chú này hay trừ hết thảy tối tăm, Như Lai truyền trì, chư Thiên kính thọ. Thiện thần hộ niệm, Phạm thiên giải bày. Ðế Thích kính thờ, ủng hộ cõi đời, các Thánh thấu rõ, chư Tiên thọ trì, các họ hòa hợp, giải thoát ràng buộc, hết thảy các trời và cùng các người, dứt các phiền não, hàng phục ma oán, chế phục ngoại đạo, bẻ gãy các lỗi kiêu mạn. Các Pháp sư đàm luận tranh tụng đều được vượt thắng, căn lành tăng trưởng, thân tâm thanh tịnh, không bỏ đại chúng, vui các học pháp, giữ gìn kinh điển, pháp tạng thâm sâu, lợi ích Tam-Bảo, thương xót tất cả loài chúng sanh, trang nghiêm chúng nghĩa, có hết thảy lợi ích lớn như vậy, nên gọi là Vô Tận Tạng Ðà Ra Ni Chương Cú, chẳng phải hộ pháp mà hay hộ, nếu có người hay đọc tụng, biên chép, thọ trì hoặc khuyên người biên chép, cho đến lấy hương hoa cúng dường kinh quyển ấy, thì được vô ngại ba mươi hai nạn sợ hãi. Người dùng chú pháp này sớm chiều tắm gội sạch sẽ, súc miệng rửa tay, y phục thanh tịnh, thắp hương chí tâm đảnh lễ, đọc tụng ba biến như vậy xong rồi, chỗ ra làm việc gì, lời nói đàm luận bốn chúng chiêm ngưỡng, hướng đến phương nào cũng được cát tường. Mọi người quy kính, thấy đều vui mừng, oan gia vâng thuận. Các ông A Nan Ðà hết thảy nên phải một lòng phụng trì Ðà Ra Ni Chương Cú này. Khi nói pháp đây, tất cả Trời, Rồng, Bát Bộ, Quỷ Thần, nghe Phật Ngài nói, đều đại vui mừng làm lễ mà trở về.  |^|
---o0o---

Sunday, June 12, 2016

VĂN THÙ SƯ LỢI CĂN BỔN NHẤT TỰ ÐÀ RA NI

VĂN THÙ SƯ LỢI CĂN BỔN NHẤT TỰ ÐÀ RA NI (QUYỂN 2)
Ðời Ðường, Bắc Ấn Ðộ nước Ca Thấp Di La
Ngài Tam Tạng Bảo Tư Duy dịch Phạn ra Hán.
Sa Môn Thích Viên Ðức dịch ra Việt văn.
           
Tôi nghe như vầy: Một thời Ðức Phật ở tại cõi Trời Tịnh Cư, nơi đạo tràng Ðại Bảo Trang Nghiêm, có các đại Bồ Tát cùng chư Thiên đại chúng đều đến nhóm hội.
Bấy giờ đức Thế Tôn mở lòng đại từ đại bi, ở trong hội ấy nói khắp tất cả chư Thiên, đại chúng rằng:
- Các ngươi lắng nghe! Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng tử có Pháp luân chú, vì muốn cứu độ cho chúng sanh, hết thảy Như Lai đều có tâm bí mật khai thị hiển thuyết. Nếu có người trì tụng ta sẽ thọ ký cho người ấy, lúc trì tất cả các chú khác mới mau hiệu nghiệm viên mãn, tất cả việc làm đều được thành tựu không gì hơn. Các ngươi phải biết Ðà Ra Ni này là Ðại Thần chú Vương, trong các chú có đại thần lực.
- Nếu có người Thiện nam, Tín nữ nào hay thọ trì, thì Ngài Văn Thù Sư Lợi Ðồng Tử Bồ Tát sẽ đến ủng hộ, hoặc lúc tỉnh giấc, hoặc ở trong mộng, Ngài hiện thân tướng và hết thảy các điềm lành, có công năng khiến cho chúng sanh đều vui mừng.
 Các Thiện nam tử! Chú Vương này còn thu nhiếp được Ngài Văn Thù Sư Lợi Ðồng Tử Bồ Tát, huống nữa các Bồ Tát khác, ở thế gian và xuất thế gian, cùng tất cả Hiền Thánh v.v…
Lại nữa, Thiện nam tử! Thần chú này có các công năng tiêu trừ tất cả tai chướng, tất cả mộng ác, tất cả oán địch, tất cả tội ngũ nghịch, tội tứ trọng, thập ác và các nghiệp tội nặng, tất cả tà ác, các chú pháp không lành và có công năng diệt trừ hay thành biện tất cả việc lành, được đại tinh tấn. Nên biết các chú tại thế và  xuất thế thì chú này thù thắng hơn hết, là tâm của chư Phật, hay khiến tất cả sở nguyện đều được viên mãn.
Nếu có chỉ năm màu, kết Thần chú này thành dây, đeo nơi cổ sẽ ủng hộ được thân mình, diệt trừ tai chướng, khiến các nguyện đều được viên mãn, không gì sánh bằng, liền nói Thần chú rằng:
“ÚM XỈ LÂM”
Này các Phật tử! Chú này có công năng tiêu diệt tất cả tà ác, vọng lượng và các loài quỷ. Là Pháp kiết tường (an lành) của hết thảy chư Phật, có công năng thành tựu tất cả Thần chú. Người tụng chú này hay khiến cho chúng sanh phát lòng đại từ, hay khiến cho chúng sanh phát lòng đại bi, hết thảy chướng ngại đều được tiêu diệt, chỗ mong cầu ước nguyện đều được đầy đủ, dù khi chưa làm phép tắc cũng được tự ý thành biện các việc. Nếu phát lòng Vô thượng  đại Bồ đề, tụng chú này một biến có năng lực gia hộ tự thân, nếu tụng hai biến có năng lực gia hộ đồng bạn, nếu tụng ba biến có năng lực gia hộ mọi người trong nhà, nếu tụng bốn biến có năng lực gia hộ mọi người trong một thành, nếu tụng năm biến có năng lực gia hộ mọi người trong gia hộ mọi người trong một nước, nếu tụng sáu biến có năng lực gia hộ mọi người trong một thiên hạ, nếu tụng bảy biến có năng lực gia hộ mọi người trong bốn thiên hạ. Nếu mỗi sáng tụng chú này một biến trong nước rửa mặt thì hay khiến người thấy sanh lòng vui mừng, chú nơi hương thơm, thoa nơi áo mặc cũng khiến mọi người thấy đều sanh lòng vui mừng.
- Nếu bị đau răng, chú trong cây Lan mà nhâm nhai đó, thì răng đau liền bớt.
- Nếu có người nữ bị sản nạn (nạn sanh đẻ) lấy rễ cây A Tra Lô Sa Ca hoặc rễ cây Lan Già Lợi Ca (cây Ngưu Tất) chú vào đó bảy biến, lượt trùng lấy nước sạch, hòa vào trong rễ cây ấy, thoa nơi sản nữ hay nơi rún, ấu nhi liền sinh ra dễ dàng.
- Hoặc có người nam bị trúng tên, đầu sắt nhọn của mũi tên đâm vào gân xương, nhổ ra không được, lấy bơ mười năm, ba lượng, tụng chú 108 biến, thoa nơi chỗ bị tên độc và ăn bơ đó, mũi tên có sắt độc kia liền ra.
- Nếu người đàn bà năm năm cho đến hai mươi năm, ba mươi năm mà chẳng có con trai hay con gái, hoặc tự có bịnh, hoặc chồng của người đàn bà ấy bị bịnh quỷ mị hay các thứ bịnh khác, hoặc bị nhằm thuốc độc, lấy bơ để lâu trên mười năm, năm lượng, lấy lông của đuôi con công, một lượng, bỏ vào trong bơ ấy, tụng chú 21 biến, đem nghiền thật nhỏ, rồi bỏ vào chưng nấu chín, lấy một lượng đường phèn và ba trái A Lê Lặc lớn, bỏ hột lấy vỏ, hòa chung với nhau lại tụng chú 108 biến, thường mỗi buổi sáng bụng đói uống thuốc ấy vào, uống bảy ngày như vậy, liền có con trai hay con gái.
- Nếu đau đầu, lấy lông cánh của con chim, tụng chú này bảy biến, phết chỗ đau nơi ấy tức bịnh liền lành.
- Nếu bị bịnh rét, một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày, hoặc bị rét kinh niên, lấy thuần sữa tốt, nấu chung với cháo, trộn vào một lượng bơ, tụng chú 108 biến cho người bị bịnh ăn, tức bịnh liền dứt.
Này các Thiên nam tử! Ðây chỉ tóm lược mà nói, nếu muốn bào chế các thứ thuốc để uống thì trước cần phải chí tâm tụng chú 21 biến, sẽ mau được như nguyện.
Lại nữa! Các Thiện nam tử! Nếu có tất cả chúng sanh, bị quỉ Phi đầu bắt giữ thì mình lấy tay thoa nơi mặt họ, tụng chú 108 biến, mình làm tướng oai nộ, liền lấy tay trái kiết ấn Bổn sanh (ngón tay cái co vào trong lòng bàn tay, sau dùng bốn ngón kia nắm chặt ngón cái lại thành một hình cầm cú) liền tự hét nộ mắt chăm nhìn và tụng chú mà xem bịnh thì bịnh liền lành.
- Nếu người bị các loài quỉ hành bịnh, mình tụng chú vào trong tay phải 108 biến, thiêu An tất hương xông nơi tay, tay trái kiết ấn Bổn sanh (ấn như trên) tay phải thoa nơi đầu của người bị quỉ hành bịnh, bịnh liền dứt.
- Nếu có oán địch cùng các ác mộng và các việc sợ hãi, làm thân tâm bất an, lấy chỉ bảy màu hay năm màu, kết Thần chú này thành dây hoặc thành hình hoa sen, hoặc thành hình bánh xe Pháp luân, hoặc thành hình Kim Cang xử, tụng chú 108 biến, thiêu An tất hương, xông dây đó cho đến bảy ngày, đeo vào nơi cổ, tất cả tai chướng đều được tiêu tán. Hoặc lấy ngưu huỳnh nghiền nhỏ làm mực, viết trên giấy sạch, hoặc là lụa trắng, vẽ hình đáng sợ nơi bốn bên, hãy viết chữ “ÚM XỈ LÂM”  chung quanh, hoặc vẽ hình hoa sen, hoặc hình bánh xe Pháp luân, hoặc chữ vạn, hình ngư ốc, hình Kim Cang móc câu, bình Cam lồ báu, vẽ chung quanh ấy, tụng chú bảy biến thì chỗ sợ hãi liền tiêu trừ.
- Này các Thiện nam tử! Nếu muốn đi qua các chỗ hiểm nạn sư tử, hổ lang, độc xà, oán tặc tất cả chỗ nạn ấy, nên cần dốc hết thân tâm cho thanh tịnh, không được gần gũi người nữ, không được ăn ngũ tân (rượu, thịt, hành, hẹ, nén, tỏi …) đối với chúng sanh, phát tâm đại từ bi, nhất tâm tụng chú 49 biến thì các oán ác tự nhiên thối tán, dầu có gặp đi nữa cũng đều sanh tâm vui mừng.
Này các Thiện nam tử! Thần chú này đối với tất cả chúng sanh, hoặc ở một kiếp, hoặc vô lượng kiếp, cho đến danh tự không thể nghe được, huống nữa chuyên tâm tụng niệm, giả sử của bảy báu như: voi, ngựa đầy dẫy cõi Diêm Phù Ðề này, cũng là pháp  hoại diệt của thế gian.
Ðà Ra Ni Thần chú này, khiến chúng sanh hiện tại và tương lai, thường được an ổn, hay làm quyến thuộc với các Như Lai và các chúng đại Bồ Tát. Nếu vì bản thân mình hay bản thân người khác thì các sở nguyện cũng đều được như ý. Vậy cho nên phải ân cần khao khát, rất khó gặp, không được khinh mạn, hoặc sanh tâm nghi ngờ.

NGU BO CHU - UM XI LAM

Ðời Ðường, Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Nghĩa Tịnh phụng chiếu dịch Phạn ra Hán.
Sa Môn Thích Viên Ðức dịch thành Việt văn.


Bấy giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong cõi Trời Tịnh cư, giữa chúng chư Thiên, Ngài ngồi kiết già chánh niệm, khắp xem đại chúng mà dạy rằng: Này các vị chư Thiên, phải chí tâm lắng nghe, Ngài Mạn Thù Thất Lợi Ðồng Tử có công hạnh nhiệm mầu, gọi là đàn tràng tác pháp (làm phép) Thần chú trị lành các bịnh và hộ thân mình, là tâm chú tối thượng bí mật thứ nhất, tất cả Như Lai đều nói và khen ngợi tán dương, đây là đại chú vương. Nếu có thiện nam tín nữ nào thường hay tụng Thần chú này thì là thọ trì tất cả Thần chú vậy.
Này các chư Thiên! Ðây là đại chú vương không thể trái được, còn sai sử Ngài Mạn Thù Thất Lợi Ðồng Tử đại Bồ Tát. Thần chú này cũng có công năng tùy theo tâm tự tại dắt dẫn, thu nhiếp cho những kẻ tương lai, khiến sử hiện tiền làm các công việc, huống lại các Bồ Tát khác ở trong thế gian và xuất thế gian đã có Thần chú. Tất cả chướng ngại đều được tiêu trừ, có đại dũng mãnh và có đại oai lực, thần nghiệm thứ nhất trong các Thần chú, trong một chữ rất tôn quí, một chữ của chú này thảy đều có công năng thành tựu tất cả các sự nghiệp, hoàn toàn viên mãn tất cả chú thuật, không thể hủy hoại được, là tâm chú của hết thảy chư Phật, các sở cầu đều được viên mãn.
Này các chư vị Thiên chúng! Tất cả phải chí tâm lắng nghe, không thể nghĩ bàn đại oai lực của Thần chú này, liền nói Thần chú rằng:
“ÚM, XỈ LẠC HÊ DIÊM”
Này các vị chư Thiên chúng! Ðây là chú vương hơn tất cả các Thần chú bí mật khác, hết thảy hữu tình không dám trái lịnh, tất cả quỉ thần không dám gần gũi, là việc kiết tường của chư Phật, trong tất cả Thần chú thì Thần chú này cao thượng tùy ý thành tựu thứ nhất, làm đại tôn thắng trong tất cả thế gian. Nếu có người cầu tiền tài cho được đại tự tại thì sẽ khiến cho hiền lành, đối với các loài hàm thức thì làm cho tâm tánh họ trở nên bi mẫn, có kẻ oán nghịch ấy thảy đều thuận theo.
Tóm lại mà nói, bất cứ việc gì cũng được thành tựu, dẫu không tác pháp, nhập đàn tràng v.v… chỉ thẳng vào mà trì tụng, khi tay sờ chạm những chỗ đau bịnh liền được tùy ý. Chú trong áo mặc người thấy đều ưa mến, vui mừng.
- Nếu đau răng, chú vào cây rau (loại rau trị bịnh đau răng) nhâm nhai, thì bịnh nhức răng liền lành.
- Nếu bị đau mắt, lấy Tiên Ðà La Diêm (muối lâu năm) nghiền thật nhỏ, chú bảy biến, nhỏ vào trong mắt, bịnh đau mắt liền dứt.
- Nếu bị đau lỗ tai, lấy phân của voi hay của ngựa ở trong vườn, lâu ngày thành nấm, lấy nấm đó, lấy dầu Cư Ðằng (dây mây, củ mây, trái mây, lá mây, ép thành dầu) lấy ít muối lâu năm, xong lấy mỗi thứ một chút, chú nguyện mỗi thứ bảy biến, bỏ chung vào nghiền thật nhỏ, cho vào ít nước nóng, khuấy thật đều, nhỏ vào tai, bịnh tức liền lành.
- Nếu có người nữ khi sắp sanh sản, bị thai khuấy động, trong bụng quặn đau, thật là khó sanh, lấy rễ cây A Tra Lưu Lệ hoặc rễ cây Ngưu Tất, lấy nước lượt trùng, đổ vào rễ cây ấy, đâm nát, chú bảy biến, thoa nơi dưới rún liền sanh dễ dàng.
- Hoặc người bị tên bắn, mũi sắt nhọn của tên đâm vào thân, lấy ra không được, dùng tía tô hay bơ, chú 108 biến, cho người đó uống, mũi sắt nhọn của tên liền lấy ra dễ dàng.
- Nếu bị trúng thực, ăn không tiêu trong bụng quặn đau, trên thổ dưới tả, nóng nảy sợ chết, có thể lấy muối đen hoặc muối lâu năm, hay các loại muối nghiền thật nhỏ, chú bảy biến cho vào chút nước nóng, khiến người kia uống bịnh liền dứt.
Lại nữa, bịnh kiết lỵ lâu ngày chẳng hết, lấy rễ cây Quật Dữu (cây quit) hoặc rễ của cây Minh Tra (cây Tra trái ăn ăn được, mọc chỗ vắng) đâm thật nhỏ, chú bảy biến, hòa vào ít nước, uống vào thì bịnh liền lành.
- Nếu người đàn bà không có phương pháp gì để sanh con, muốn cầu con trai hay con gái, nên lấy rễ cây A Thuyết Kiền Ðà, lấy bơ chưng chín, đem giã thật nhỏ hòa chung với Ngưu Huỳnh và sữa, chú vào ấy 25 biến, chờ lúc người đàn bà kia thân thanh tịnh, cho uống thuốc này, chồng cũng như vợ không được ngoại tình, trong thời gian không lâu tức liền có thai.
- Lại nữa! Nếu người đàn bà không có con kế tự, trải qua ba năm, năm năm hoặc nhiều năm, hay bị thư chú, hay bị nguyên do trù yếm, hoặc nhơn các bịnh, hoặc bị người làm não loạn, hoặc bị thuốc độc, hoặc gặp ác duyên, cho nên không có con kế tự, lấy một ít lông đuôi của con công, bỏ vào ít bơ, nấu sôi một trăm độ, đem nghiền thật nhỏ bỏ vào ít đường phèn, độ bằng quả táo, chú 27 biến, khiến cho uống hết, sau bảy ngày, trong mỗi ngày thường lấy ít đường phèn hòa chung với sữa, mỗi thứ chú bảy biến, người đàn bà kia thân thanh tịnh, các bịnh đều lành, liền có thai.
- Nếu có người nữ, làm băng và ra huyết trắng cả tháng mà không dứt, nên lấy rễ của cây A Lam Bộ hoặc rễ cây Chàm Xanh cỡ bằng nắm tay, bóp thật nhỏ hòa với sữa chưng chín, chú 108 biến, khiến người bịnh uống tức bịnh liền lành.
- Nếu bị đau đầu nên lấy lông cánh của con chim chú bảy biến, quét phết nơi chỗ đau liền bớt vĩnh viễn.
- Nếu người bị sốt rét, một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày sinh ra, hoặc thường đau nóng, hoặc tạm thời đau nóng, lấy sữa nấu với cháo hòa chung với bơ, chú 108 biến cho người bịnh ăn thì bịnh liền lành. Hoặc có người bị kẻ khác trù ếm, bị trúng độc trùng, nên làm phương pháp phản duyên tâm, chú tự nơi mặt mình 108 biến xong nhìn người bịnh kia thì bịnh liền lành.
- Nếu người bị tà quỷ Yết Tra, Bố Ðơn Na v.v… các quỷ làm bịnh, hay bị tất cả cá kẻ phi nhơn làm não loạn, nên chú nơi tay mình 108 biến, rờ vuốt trên đầu người bịnh kia, liền các thứ bịnh đều lành.
- Nếu có người bị rắn rết cắn, hoặc chó dại cắn, lấy hơi thở người trì chú, thổi vào chỗ bị cắn, chú 49 biến thì liền lành.
- Nếu có người bị bịnh lác, bịnh gầy đét ấy, nên tắm rửa sạch sẽ, nơi tịnh thất thanh tịnh đóng cửa ở trong đó, thường trì tụng chú này thì bịnh liền lành.
Phàm người trì tụng Thần chú này, phải thường xa lìa người ác, xa nơi dơ uế bất tịnh, không được gần rượu thịt và ngũ tân, hết lòng trì tụng, không được trái phạm.
Nếu thường mỗi ngày trì tụng một biến bảo hộ được thân, nếu tụng hai biến bảo hộ đồng bạn, nếu tụng ba biến bảo hộ được mọi người trong nhà, nếu tụng bốn biến bảo hộ được một thôn, nếu tụng năm biến bảo hộ được một thành, nếu tụng một trăm biến bảo hộ được một nước, nếu tụng một ngàn biến thì bảo hộ được bốn thiên hạ.
Tóm lại mà nói thì lành bịnh, hộ thân, tùy thời lợi ích, nếu ra làm việc gì tùy ý thành tựu.
Lúc bấy giờ, chư Thiên, đại chúng nghe Phật nói Nhất Tự Chú Vương kinh rồi, đều vui mừng vâng giữ.
(Nếu lại có người cầu giải thoát, được đại lợi ích muốn hiện tiền chứng quả, thì hết lòng làm theo các pháp của chú này, được tất cả như lời nói trong kinh).

MẠN THÙ THẤT LỢI BỒ TÁT CHÚ TẠNG TRUNG NHẤT TỰ CHÚ VƯƠNG KINH


Ðời Ðường, Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Nghĩa Tịnh phụng chiếu dịch Phạn ra Hán.
Sa Môn Thích Viên Ðức dịch thành Việt văn.


Bấy giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong cõi Trời Tịnh cư, giữa chúng chư Thiên, Ngài ngồi kiết già chánh niệm, khắp xem đại chúng mà dạy rằng: Này các vị chư Thiên, phải chí tâm lắng nghe, Ngài Mạn Thù Thất Lợi Ðồng Tử có công hạnh nhiệm mầu, gọi là đàn tràng tác pháp (làm phép) Thần chú trị lành các bịnh và hộ thân mình, là tâm chú tối thượng bí mật thứ nhất, tất cả Như Lai đều nói và khen ngợi tán dương, đây là đại chú vương. Nếu có thiện nam tín nữ nào thường hay tụng Thần chú này thì là thọ trì tất cả Thần chú vậy.
Này các chư Thiên! Ðây là đại chú vương không thể trái được, còn sai sử Ngài Mạn Thù Thất Lợi Ðồng Tử đại Bồ Tát. Thần chú này cũng có công năng tùy theo tâm tự tại dắt dẫn, thu nhiếp cho những kẻ tương lai, khiến sử hiện tiền làm các công việc, huống lại các Bồ Tát khác ở trong thế gian và xuất thế gian đã có Thần chú. Tất cả chướng ngại đều được tiêu trừ, có đại dũng mãnh và có đại oai lực, thần nghiệm thứ nhất trong các Thần chú, trong một chữ rất tôn quí, một chữ của chú này thảy đều có công năng thành tựu tất cả các sự nghiệp, hoàn toàn viên mãn tất cả chú thuật, không thể hủy hoại được, là tâm chú của hết thảy chư Phật, các sở cầu đều được viên mãn.
Này các chư vị Thiên chúng! Tất cả phải chí tâm lắng nghe, không thể nghĩ bàn đại oai lực của Thần chú này, liền nói Thần chú rằng:
“ÚM, XỈ LẠC HÊ DIÊM”
Này các vị chư Thiên chúng! Ðây là chú vương hơn tất cả các Thần chú bí mật khác, hết thảy hữu tình không dám trái lịnh, tất cả quỉ thần không dám gần gũi, là việc kiết tường của chư Phật, trong tất cả Thần chú thì Thần chú này cao thượng tùy ý thành tựu thứ nhất, làm đại tôn thắng trong tất cả thế gian. Nếu có người cầu tiền tài cho được đại tự tại thì sẽ khiến cho hiền lành, đối với các loài hàm thức thì làm cho tâm tánh họ trở nên bi mẫn, có kẻ oán nghịch ấy thảy đều thuận theo.
Tóm lại mà nói, bất cứ việc gì cũng được thành tựu, dẫu không tác pháp, nhập đàn tràng v.v… chỉ thẳng vào mà trì tụng, khi tay sờ chạm những chỗ đau bịnh liền được tùy ý. Chú trong áo mặc người thấy đều ưa mến, vui mừng.
- Nếu đau răng, chú vào cây rau (loại rau trị bịnh đau răng) nhâm nhai, thì bịnh nhức răng liền lành.
- Nếu bị đau mắt, lấy Tiên Ðà La Diêm (muối lâu năm) nghiền thật nhỏ, chú bảy biến, nhỏ vào trong mắt, bịnh đau mắt liền dứt.
- Nếu bị đau lỗ tai, lấy phân của voi hay của ngựa ở trong vườn, lâu ngày thành nấm, lấy nấm đó, lấy dầu Cư Ðằng (dây mây, củ mây, trái mây, lá mây, ép thành dầu) lấy ít muối lâu năm, xong lấy mỗi thứ một chút, chú nguyện mỗi thứ bảy biến, bỏ chung vào nghiền thật nhỏ, cho vào ít nước nóng, khuấy thật đều, nhỏ vào tai, bịnh tức liền lành.
- Nếu có người nữ khi sắp sanh sản, bị thai khuấy động, trong bụng quặn đau, thật là khó sanh, lấy rễ cây A Tra Lưu Lệ hoặc rễ cây Ngưu Tất, lấy nước lượt trùng, đổ vào rễ cây ấy, đâm nát, chú bảy biến, thoa nơi dưới rún liền sanh dễ dàng.
- Hoặc người bị tên bắn, mũi sắt nhọn của tên đâm vào thân, lấy ra không được, dùng tía tô hay bơ, chú 108 biến, cho người đó uống, mũi sắt nhọn của tên liền lấy ra dễ dàng.
- Nếu bị trúng thực, ăn không tiêu trong bụng quặn đau, trên thổ dưới tả, nóng nảy sợ chết, có thể lấy muối đen hoặc muối lâu năm, hay các loại muối nghiền thật nhỏ, chú bảy biến cho vào chút nước nóng, khiến người kia uống bịnh liền dứt.
Lại nữa, bịnh kiết lỵ lâu ngày chẳng hết, lấy rễ cây Quật Dữu (cây quit) hoặc rễ của cây Minh Tra (cây Tra trái ăn ăn được, mọc chỗ vắng) đâm thật nhỏ, chú bảy biến, hòa vào ít nước, uống vào thì bịnh liền lành.
- Nếu người đàn bà không có phương pháp gì để sanh con, muốn cầu con trai hay con gái, nên lấy rễ cây A Thuyết Kiền Ðà, lấy bơ chưng chín, đem giã thật nhỏ hòa chung với Ngưu Huỳnh và sữa, chú vào ấy 25 biến, chờ lúc người đàn bà kia thân thanh tịnh, cho uống thuốc này, chồng cũng như vợ không được ngoại tình, trong thời gian không lâu tức liền có thai.
- Lại nữa! Nếu người đàn bà không có con kế tự, trải qua ba năm, năm năm hoặc nhiều năm, hay bị thư chú, hay bị nguyên do trù yếm, hoặc nhơn các bịnh, hoặc bị người làm não loạn, hoặc bị thuốc độc, hoặc gặp ác duyên, cho nên không có con kế tự, lấy một ít lông đuôi của con công, bỏ vào ít bơ, nấu sôi một trăm độ, đem nghiền thật nhỏ bỏ vào ít đường phèn, độ bằng quả táo, chú 27 biến, khiến cho uống hết, sau bảy ngày, trong mỗi ngày thường lấy ít đường phèn hòa chung với sữa, mỗi thứ chú bảy biến, người đàn bà kia thân thanh tịnh, các bịnh đều lành, liền có thai.
- Nếu có người nữ, làm băng và ra huyết trắng cả tháng mà không dứt, nên lấy rễ của cây A Lam Bộ hoặc rễ cây Chàm Xanh cỡ bằng nắm tay, bóp thật nhỏ hòa với sữa chưng chín, chú 108 biến, khiến người bịnh uống tức bịnh liền lành.
- Nếu bị đau đầu nên lấy lông cánh của con chim chú bảy biến, quét phết nơi chỗ đau liền bớt vĩnh viễn.
- Nếu người bị sốt rét, một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày sinh ra, hoặc thường đau nóng, hoặc tạm thời đau nóng, lấy sữa nấu với cháo hòa chung với bơ, chú 108 biến cho người bịnh ăn thì bịnh liền lành. Hoặc có người bị kẻ khác trù ếm, bị trúng độc trùng, nên làm phương pháp phản duyên tâm, chú tự nơi mặt mình 108 biến xong nhìn người bịnh kia thì bịnh liền lành.
- Nếu người bị tà quỷ Yết Tra, Bố Ðơn Na v.v… các quỷ làm bịnh, hay bị tất cả cá kẻ phi nhơn làm não loạn, nên chú nơi tay mình 108 biến, rờ vuốt trên đầu người bịnh kia, liền các thứ bịnh đều lành.
- Nếu có người bị rắn rết cắn, hoặc chó dại cắn, lấy hơi thở người trì chú, thổi vào chỗ bị cắn, chú 49 biến thì liền lành.
- Nếu có người bị bịnh lác, bịnh gầy đét ấy, nên tắm rửa sạch sẽ, nơi tịnh thất thanh tịnh đóng cửa ở trong đó, thường trì tụng chú này thì bịnh liền lành.
Phàm người trì tụng Thần chú này, phải thường xa lìa người ác, xa nơi dơ uế bất tịnh, không được gần rượu thịt và ngũ tân, hết lòng trì tụng, không được trái phạm.
Nếu thường mỗi ngày trì tụng một biến bảo hộ được thân, nếu tụng hai biến bảo hộ đồng bạn, nếu tụng ba biến bảo hộ được mọi người trong nhà, nếu tụng bốn biến bảo hộ được một thôn, nếu tụng năm biến bảo hộ được một thành, nếu tụng một trăm biến bảo hộ được một nước, nếu tụng một ngàn biến thì bảo hộ được bốn thiên hạ.
Tóm lại mà nói thì lành bịnh, hộ thân, tùy thời lợi ích, nếu ra làm việc gì tùy ý thành tựu.
Lúc bấy giờ, chư Thiên, đại chúng nghe Phật nói Nhất Tự Chú Vương kinh rồi, đều vui mừng vâng giữ.
(Nếu lại có người cầu giải thoát, được đại lợi ích muốn hiện tiền chứng quả, thì hết lòng làm theo các pháp của chú này, được tất cả như lời nói trong kinh).

Thần chú Uế tích Chơn ngôn Ðại Viên Mãn Ðà Ra Ni rằng:

“Úm, bút quát hốt lốt, ma ha bát ra ngân na, ngái vẫn trấp vẫn, hê ma ni, vĩ hiệt vĩ ma na thê. Úm, chước cấp na, ô thâm một hốt lốt, hùm hùm hùm, phấn phấn phấn phấn phấn, tóa ha.”
Sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu ai thọ trì Thần chú này thệ độ quần sanh, khiến cho Phật Pháp bất diệt, cửu trụ ở đời, phát lời nguyện ấy rồi liền thuyết Thần chú Uế tích Chơn ngôn Ðại Viên Mãn Ðà Ra Ni rằng:
“Úm, bút quát hốt lốt, ma ha bát ra, ngân na ngái, vẫn trắp vẫn, vĩ hiệt vĩ, ma na thê, ô thâm mộ hốt lốt, hùm hùm phấn phấn phấn tóa ha.”.
Bấy giờ Ngài Kim Cang thuyết Thần chú này rồi lại nói nữa rằng: Sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu ai thường tụng Thần chú này, nếu có chúng sanh thỉnh nguyện thọ trì Thần chú đây, tôi thường vì sự sai khiến của người ấy mà làm cho họ sở cầu như nguyện. Tôi nay trước đức Như Lai mà nói Thần chú này, cúi xin đức Như Lai trong cõi Niết Bàn thấu rõ cho chúng con. Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh bị nhiều thứ quỷ, ác thần làm não loạn, trì Thần chú này đều không thể làm hại, vĩnh viễn xa lìa các khổ nạn.

UẾ TÍCH KIM CANG THUYẾT THẦN THÔNG ÐẠI MÃN ÐÀ RA NI PHÁP THUẬT LINH YẾU MÔN


Bắc Thiên Trúc, Sa Môn Tam Tạng 
A Chất Ðạt Tần truyền sang từ đời Ðường.
Ngài Vô Năng Thắng Tướng dịch Phạn ra Hán.
Sa Môn Thích Viên Ðức dịch thành Việt văn.


QUYỂN MỘT
Tôi nghe như vầy, một thời Ðức Phật ở tại Câu Thi Na, xứ Lực Sĩ Xanh, gần bên sông Bạc Ðề trong rừng Sa La Song Thọ.
Lúc bấy giờ đức Như Lai sắp nhập Niết Bàn, khi đó có vô lượng trăm ngàn vạn chúng, hết thảy trời, rồng, tám bộ người và phi nhơn … đứng chung quanh bốn phía Ðức Phật than khóc buồn rầu khổ não.
Bấy giờ lại có chư Thiên, đại chúng, như ông Thích Ðề Hoàn Nhơn v.v… đều đến cúng dường, chỉ có ông Lễ Kế Phạm Vương, đem chư Thiên nữ, nương ở bốn phía đoanh vây chung quanh ông mà ngồi, Thiên nữ trước sau, cả thảy ngàn vạn ức chúng cùng chung vui chơi. Nghe đức Như Lai vào cõi Niết Bàn mà không đến thăm hỏi.
Bấy giờ chư đại chúng liền nói: Ngày nay đức Như Lai vào Niết Bàn, vậy sao Phạm Vương kia không đến ư?! Vương kia chắc có tâm ngã mạn mới không đến đây. Hết thảy đồ chúng chúng ta nên sai khiến tiểu Chủ Tiên, đến nơi kia khiến họ về. Nói lời ấy rồi liền vội thúc trăm ngàn chúng Chú Tiên đến chỗ nơi ấy mới thấy các thứ bất tịnh làm thành vác. Tiên kia thấy rồi thảy đều phạm chú mà chết.
Bấy giờ đại chúng ngạc nhiên chưa từng có, lại thúc vô lượng Kim Cang cũng khiến trì chú mà đi, mãi đến bảy ngày không người tới được. Ðại chúng thấy việc đó rồi, thêm phần buồn rầu.
Bấy giờ đại chúng đồng thinh mà nói kệ rằng:
“Khổ thay Ðại Thánh Tôn,
Niết Bàn sao mau quá?
Các trời còn quyết định,
Không người được tìm kêu,
Ðau xót thầy cõi trời,
Niết Bàn như lửa tắt.”
Bấy giờ, chư đại chúng nói kệ này rồi lại bội phần gào khóc buồn khổ thảm thiết. Lúc ấy đức Như Lai thương xót chư đại chúng liền dùng Ðại biến Tri Thần Lực nơi bên tay trái của quả tim mà hóa ra Kim Cang bất hoại. Liền từ chỗ ngồi ở trong đại chúng mà đứng dậy bạch đại chúng rằng: Tôi có đại Thần chú, hãy thu lấy Phạm Vương kia. Nói lời ấy rồi liền ở trong đại chúng hiển bày thần thông làm cho Tam thiên đại thiên thế giới chấn động, cung trời, cung rồng cùng các cung điện quỷ thần thảy đều sụp đổ, liền tự thân bay đến chỗ Phạm Vương kia lấy tay chỉ đó, các thứ vật xú uế kia biến làm đại địa.
Bấy giờ Ngài Kim Cang bảo với người kia rằng: Ngươi thật là đại ngu si, đức Như Lai ta muốn vào cõi Niết Bàn, sao ngươi không đến? Liền lấy sức bất hoại Kim Cang mà chỉ đó, Phạm Vương phát tâm đến chỗ đức Như Lai.
Bấy giờ đại chúng khen ngợi rằng: Ðại Lực Sĩ, người thật là đại thần lực mới đem Phạm Vương về đến nơi đây. Lúc đó Ngài Kim Cang liền nói rằng: Nếu có chúng sanh nào trong thế gian bị chư Thiên ác ma hung mãnh và các ác quỷ, hết thảy các ngoại đạo làm não loạn, người ấy chỉ tụng Thần chú của ta mười vạn biến, ta tự hiện thân mà hộ hết thảy các hữu tình, tùy ý mà được viên mãn, vĩnh viễn xa lìa nghèo cùng khốn khổ, thường được an vui. Thần chú này có công năng như thế. Trước phát lời đại nguyện, niệm đức Bổn Tôn của ta: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu ai thọ trì Thần chú này thệ độ quần sanh, khiến cho Phật Pháp bất diệt, cửu trụ ở đời, phát lời nguyện ấy rồi liền thuyết Thần chú Uế tích Chơn ngôn Ðại Viên Mãn Ðà Ra Ni rằng:
“Úm, bút quát hốt lốt, ma ha bát ra, ngân na ngái, vẫn trắp vẫn, vĩ hiệt vĩ, ma na thê, ô thâm mộ hốt lốt, hùm hùm phấn phấn phấn tóa ha.”.
Bấy giờ Ngài Kim Cang thuyết Thần chú này rồi lại nói nữa rằng: Sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu ai thường tụng Thần chú này, nếu có chúng sanh thỉnh nguyện thọ trì Thần chú đây, tôi thường vì sự sai khiến của người ấy mà làm cho họ sở cầu như nguyện. Tôi nay trước đức Như Lai mà nói Thần chú này, cúi xin đức Như Lai trong cõi Niết Bàn thấu rõ cho chúng con. Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh bị nhiều thứ quỷ, ác thần làm não loạn, trì Thần chú này đều không thể làm hại, vĩnh viễn xa lìa các khổ nạn.
Bạch Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành và người gái tín nào muốn cứu trị lành vạn bịnh thì tụng Thần chú của con, trên bốn mươi vạn biến, thấy có các bịnh, trị đều hiệu nghiệm, không luận sạch hay dơ, tùy ý sai khiến, con thường theo gia hộ, hết thảy các sở nguyện đều được viên mãn.
Nếu muốn cây khô sanh cành lá, lấy một lượng Bạch giao hương để thoa trong tim cây, lấy cành dương chi chú trong cây một trăm biến, ngày ba thời cho mãn ba ngày, cây liền sanh hoa trái.
Nếu muốn suối khô có nước, lấy vôi sạch mà rải khắp chung quanh ấy, lấy hoa tốt bỏ vào trong ba mươi lít nước sạch ở giếng, đem để ở trong giữa lòng suối, giờ Dần buổi sáng chú 108 biến, nước liền phun ra như bánh xe quay.
Nếu muốn núi khô sanh cây cỏ, lấy dao thép bén búa bốn hướng của núi ấy, chú ba ngàn biến, mãn bảy ngày liền sanh cây cỏ.
Nếu muốn khiến loại dã thú hung mãnh đến hàng phục, lấy An tất hương, nhìn về hướng có dã thú ấy mà đốt, chú một ngàn biến, đêm lại các dã thú kia kéo nhau tụ tập trước cửa nhà của người trì chú, quy hàng hiền hậu, giống như gia súc mình nuôi vậy, tùy ý sai bảo, đời đời không xa lìa.
Nếu muốn quỉ dạ xoa tự đến hàng phục, lấy mười nhánh đào tề cho bằng gốc, lấy năm mươi lít nước đổ vào bình sành (cái thạp) đem nấu, bỏ đào liễu ấy vào ngâm, xong lấy ra, lấy ba lượng đinh hương, ba lượng lớn nhủ đầu hương, ba lượng lớn bạch giao hương, sau cùng hòa trong năm mươi lít nước nấu đào liễu ấy liền đem đổ trong một cái chậu bể, lấy nhánh đào dài ba thước mà khuấy nước đó, tụng chú một trăm biến, hết thảy quỷ dạ xoa, la sát đều đến hiện hình, cùng người làm pháp này mà hầu chuyện, cầu xin theo làm thị giả.
Nếu muốn diệt ác tâm của các quỷ thần, độc xà, rắn rết, những mãnh thú hung dữ v.v… lấy vôi sạch rải khắp cửa hang của chúng, tự nhiên chúng chui ra, tụng chú nho nhỏ một trăm biến thì các rắn độc trùng thú kia liền diệt hết tâm độc, không dám làm tổn thương người khiến mau được giải thoát.
Nếu muốn chó dữ không cắn người, lấy một nắm cơm chú bảy biến vào cho nó ăn, vĩnh viễn không cắn người mà cũng không còn gầm sủa hung hăng.
Nếu muốn người ác đến hàng phục mình, viết tên họ người ấy để dưới bàn chân, chú một trăm biến, tâm mình nghĩ đến người kia, người kia liền đến hàng phục, bỏ hết tâm oán ghét.
Nếu muốn hàng phục người nhau, viết tên họ của hai người đó, để dưới bàn chân tụng chú hai trăm mười tám biến thì hai người ấy đời đời xa lìa, không còn thương mến.
Nếu có người ghét nhau, muốn khiến họ thương kính mến nhau, liền viết tên họ của các người ấy để dưới bàn chân tụng chú 100 lẻ tám biến thì các người ấy thương kính mến nhau, đời đời không xa lìa.
Nếu có người chưa an lạc, muốn khiến họ được an lạc cũng làm như trước, viết tên họ của người ấy dưới bàn chân, chú ba trăm biến thì người kia được an vui, nên vì người kia phát lời đại nguyện, ta đối với người ấy, khi bấy giờ liền tự đem vô lượng trân bảo ban cho người nghèo cùng, thảy được đầy đủ. Lại phép nữa: Nếu người trì chú cầu các món trí, cầu các món huệ, chỉ tụng chú mười vạn biến tự được các món đại trí huệ và các thứ thiện mỹ, biện tài trôi chảy, tùy ý mà được, chỗ cần dùng ấy thảy đều ban cho.
Nếu người trì chú cầu các thứ trân bảo, ma ni như ý châu v.v… chỉ chí tâm tụng này, tùy theo nhiều ít, ta liền ban cho họ, được mãn sở nguyện.
Nếu muốn trị lành người bịnh thì nên kiết ấn Ðốn bịnh (nước lấy tay trái, ngón trỏ, ngón giữa quấn lại với nhau) kiết ấn như vậy, chú 108 biến, lấy ấn Ðốn bịnh này quơ quơ bảy lần dưới người bịnh, người ấy liền mạnh.
Nếu trị bịnh người sắp chết, trước kiết ấn Cấm ngũ lộ, sau mới trị tức bịnh liền dứt. Ấn này cũng giống như trước, chỉ khác là ngón vô danh co vào trong lòng bàn tay, ngón út thẳng ra, chú một trăm biến bịnh liền lành.
Nếu trị bịnh tà, chỉ ở bên đầu người bịnh, xông An tức hương, tụng chú thì bịnh liền lành.
Nếu trị bịnh trùng độc, viết tên họ của người ấy trên giấy, tụng chú thì bịnh liền lành.
Trị bịnh tinh mị cũng như pháp trước mà trừ.
Nếu trị bịnh nằm liên miên, viết tên họ người bịnh cùng tên họ của con quỷ làm bịnh, vùi dưới giường tụng chú, con quỷ theo tên họ mà hiện hình, khiến con quỷ ấy nói việc ba đời mỗi mỗi hướng về người bịnh mà nói thì bịnh liền lành.
Nếu có bịnh thời khí, thấy vị Sư trì chú này thì bịnh liền lành.
Nếu muốn khiến Hành bịnh Quỷ vương không vào địa giới của mình thì vào mười ngày trai (thập trai) tụng chú của tôi 1008 biến, năng trừ vạn dặm bịnh hoạn.



Bắc Thiên Trúc, Sa Môn Tam Tạng A Chất.
Ðạt Tản truyền sang từ đời Ðường.
Ngài Vô Năng Thắng Tường dịch Phạn ra Hán.
Sa Môn Thích Viên Ðức dịch thành Việt văn.
QUYỂN HAI 
Bấy giờ Ngài Kim Cang lại bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành người gái tín nào trì chú của con mà vô hiệu nghiệm thì không lẽ đó.
Muốn khiến núi sập, lấy ba mươi lít hột cải trắng, lấy An tất hương loại tốt, vì nghi trong núi ấy có vật báu, lấy một dao thép bén, búa bốn hướng của núi ấy, làm giới hạnh lấy một cái khăn sạch, một cái lư hương xông An tất hương, trước tụng 1008 biến, lấy hột cải trắng rải khắp bốn phía cho đến bảy lần, làm phép ấy thì núi liền sập. Nếu có của báu trong đó thì vị thần giữ kho liền bỏ kho báu mà đi, tha hồ lượm lấy.
Nếu muốn biển khô nước, trước tiên chú 1008 biến, lấy vàng hoặc đồng làm thành hình con rồng, quăng xuống biển, nước biển liền khô cạn.
Nếu muốn khiến nước sông, suối chảy ngược, lấy An tất hương nắn thành hình con voi, không luận lớn nhỏ, ném xuống nước chú 108 biến, tức nước liền chảy ngược. Muốn khiến chảy lại như cũ, tụng chú trong hòn đá sạch, quăng xuống nước thì nước chảy như xưa.
Nếu có chớp nháy, sấm sét, rồng độc làm bão lụt mưa gió liền kết ấn Chỉ Lôi Ðiện (lấy tay trái, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út, co vào trong lòng bàn tay, thẳng ngón cái ra, nắm trên tiết thứ nhất của ngón trỏ) tụng chú mà chú đó, quơ quơ về hướng ấy, sấm sét liền hết.
Nếu muốn khiến hết thảy quỉ thần đến hàng phục để sai sử, lấy ba mươi lít nước đổ vào cái bát bằng đồng, lấy vôi sạch rải chung quanh rồi kiết ấn Giáo Nhiếp Lục lấy hai ngón vô danh trong lòng bàn tay, dựa lưng của hai ngón tay ấy vào nhau, hai ngón tay giữa chạm đầu lại , hai ngón trỏ và hai ngón út xòe ra như hoa nở, hai ngón tay cái vịn tiết giữa của hai ngón trỏ) kiết ấn như vậy niệm Thần chú 108 biến thì các loại ác quỉ trong thế giới đều vân tập , tự hiện thân hình, bỏ tâm ác độc, làm theo người sai khiến.
Nếu cấm núi không cho các loại đến, tụng chú 100 biến, kêu lớn ba tiếng, liền kiết ấn Nghiệp Sơn (lấy tay phải, ngón vô danh co trong lòng bàn tay, ngón trỏ, ngón giữa, ngón cái, tất cả các ngón đều thẳng ra) hướng lên trên tụng chú bảy biến, liền lui ra sau bảy bước rồi mới ấn lên núi ấy, thì ở trong núi, tất cả chim thú .v.v… liền rời khỏi núi. Nếu kiết ấn này, chú bảy biến hướng lên hư không ấn 21 lượt thì trên hư không mảy trần không qua lọt.
Nếu muốn khiến người không nói được, trước viết tên họ của người ấy bỏ vào trong miệng mình rồi ngậm lại, thì người ấy miệng không nói được, nhả ra liền nói được.
Nếu tụng tất cả chú khác, trước phải làm đàn, còn tụng chú này của tôi (Kim Cang) thì khỏi làm đàn, chỉ lấy gỗ đẽo một cái chày Kim Cang đem để nơi trong tháp Phật hoặc trong tịnh thất, dùng các hương thơm cúng dường thoa đất, tùy theo chày lớn nhỏ, nên cần các thứ hương hoa cúng dường, để chày trong đàn, tụng chú 108 biến thì cái chày ấy liền tự động hoặc biến hiện các vật lạ, không lấy gì làm ngạc nhiên, sợ hãi. Lại nữa! Tụng chú 108 biến thì cái chày ấy tự nhích lên ba thước rồi lại năm, sáu, bảy thước cho đến một trượng trở lại.
Người trì pháp này liền quỳ xuống quy y sám hối, phát lời nguyện, thì ta ở trong ấy liền hiện chơn hình, tùy theo ý của người đó làm theo khiến cho họ các sở nguyện mau được như ý. Tôi liền thọ ký cho họ được đắc quả Bồ đề, liền được thân tâm giải thoát. Trước trì tụng mười vạn biến cho đầy đủ vậy, sau mới làm các phép tắc, nếu chưa đủ túc số như vậy thì không được hiệu nghiệm.
Bấy giờ, Ngài Uế Tích Kim Cang nói Thần chú này rồi, đại chúng đồng khen rằng: Hay thay đại lực sĩ, Ngài hay nói pháp đại nhiệm mầu này, thật là tối thượng, khiến cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát.
Bấy giờ, Ngài Uế Tích Kim Cang liền bạch đại chúng rằng: Các vị phải biết, đối với pháp  của tôi mà lưu hành đến chỗ nào, tôi và tất cả đại thần Kim Cang thường theo gia hộ cho người trì pháp này, trợ giúp cho họ mau được thành tựu.
Bấy giờ, Ngài Uế Tích Kim Cang lại nói nữa rằng: Nếu có chúng sanh nào thọ trì pháp này, tôi liền hiện thân trước người ấy làm cho họ sở cầu được như nguyện. Tôi cũng ban cho họ được các phép hóa hiện, các thứ thần thông, không bị chướng ngại, nhưng phải thường niệm danh hiệu đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta, tôi thường theo đến đó, khiến cho tất cả các pháp đều được thành tựu.
Bấy giờ Ngài Kim Cang tiếp nói các phù ấn sau đây:
ẤN PHÁ ÐỆ NHỊ:
Ấn này khắc vuông một tấc tám phân, chú một ngàn biến, dùng Bạch giao hương thoa. Ngày khắc ấn này không được cho người thấy. Dùng ấn in nơi tâm (ngực) thì được Tâm trí, Tự nhiên trí, Túc mạng trí. Trì ấn này một trăm ngày liền được các Ðại pháp môn.
Ấn này khắc vuông một tấc hai phân, chú 600 biến, lấy An tất hương thoa, đeo nơi thân, khiến tất cả mọi người thấy mình đều vui mừng, được Ðại tự tại, xa lìa vĩnh viễn ác khổ.
Ấn này khắc vuông một tấc năm phân, chú 600 biến, lấy Bạch giao hương thoa. Dùng ấn in dưới lòng bàn chân liền bay được trên hư không, tùy ý mà bay đến các hướng.
Ấn này khắc vuông một tấc tám phân, dùng Bạch giao hương thoa, chú 7000 biến, dùng ấn in nơi chân, có thể ngày đi 300 vạn dặm người không thấy được.
CƯỚC CHÚ: Bốn ấn vuông trên đã đo đúng thước tấc của Tàu. Quý vị tu trì cứ nương đây làm khuôn mẫu.

Người bịnh liên miên, viết bùa này nơi tim (ngực) họ, thì bịnh liền lành.
“Ðại kiết cấp cấp như luật lịnh.”
Ðau tim, viết bùa này lập tức liền trừ lành. “Ðại kiết lợi cấp cấp như luật lịnh.”
Trước tụng chú bảy biến.
Bịnh quỷ, lấy màu đỏ viết cho uống đó.
Người bị bịnh Tinh mị quỷ, lấy màu đỏ, viết bảy lá lớn cho uống liền lành, rất thần nghiệm.
Nếu người làm pháp này, lấy vải sa tanh trắng (một trượng bảy) 10m7 tấc, đem giặt cho thật trắng, để trong Ðại luân thế giới (quả địa cầu) khiến người sống lâu 70 tuổi. Nếu không có người làm được vậy, thì ở trong chính giữa sân nhà, đào đất 7 thước, chôn vải ấy thì được thông minh, tăng trưởng trí huệ, biện tài vô ngại.
Bảy chữ bùa này có công năng trị vạn bịnh, viết mà uống đó, khiến cho người sống lâu, tăng trưởng trí huệ rất đại thần nghiệm.
Bảy chữ bùa này, dùng màu đỏ viết trên giấy, uống 1000 cái (vò viên bằng múi cam) khiến người sống lâu ngang bằng trời đất. Khi làm pháp này không được cho người thấy.
Bảy chữ bùa trên, nếu có người bị các thứ bịnh, viết bùa này uống đều được trị lành. Nếu người viết bùa này uống đó thì được sống lâu, tăng trưởng trí huệ, rất đại thần nghiệm vậy.
Bảy chữ bùa trên, nếu có cầu các thứ trân bảo, dùng màu đỏ viết bùa này uống, cho mãn bảy ngày thì có các thứ trân bảo tự nhiên đem đến. Nếu cầu tài vật của người, viết tên họ người ấy để dưới bùa này thì người kia liền đem tài vật dâng đến.
Ba chữ bùa trên, dùng màu đỏ viét, dán trên bốn chân giường, thì thường có tám vị đại Kim Cang theo gia hộ, không tạm bỏ rời. Nhưng phải uy nghiêm, thanh tịnh, không được cho các vật ô uế vào phòng, phải cẩn thận dè dặt đó.
Khi có nạn lửa lớn bốc cháy, viết chữ bùa này ném vào đó, tụng chú 108 biến, hướng có nạn lửa ấy tự nhiên tắt.
Khi có gió lửa ác nổi lên (bão lửa) viết bùa này, chú 108 biến, ném vào hướng gió đó, thì ác kia liền diệt.
Khi có nước lớn nổi lên, viết bùa này ném vào trong nước lớn đó, lập tức dứt nước chảy, không làm chìm người được.
Khi có mưa lụt lớn, viết bùa này, chú 108 biến ném vào hướng có mưa đó, lập tức đình lại.
Dùng màu đỏ viết bùa này, uống ba lá thì mới có thể viết bùa cho người khác, tức có linh nghiệm.
Nếu không làm như vậy, dùng các bùa đều vô nghiệm.
Ðây là chày Kim Cang! Các vị tu về pháp Kim Cang, lấy gỗ thơm, y đây mà đẽo chày.
Bấy giờ Ngài Uế Tích Kim Cang nói pháp này rồi đại chúng thêm phần vui mừng, cùng chư Thiên Long, đại quỷ thần v.v… vâng lời dạy mà làm lễ lui về.
LỜI PHỤ: Bổn kinh cũ, Thần chú có bốn mươi ba chữ. Ðời Ðường vua Thái Tôn, nhiều người trì quá linh nghiệm, cho nên bỏ bớt mười chữ. Nay lục trong bổn cũ ra, khiến mau được linh nghiệm, không chú nào qua Thần chú này:
“Úm, bút quát hốt lốt, ma ha bát ra ngân na, ngái vẫn trấp vẫn, hê ma ni, vĩ hiệt vĩ ma na thê. Úm, chước cấp na, ô thâm một hốt lốt, hùm hùm hùm, phấn phấn phấn phấn phấn, tóa ha.”
Ngài Chơn Giác đàn sư, truyền Thần chú này, cũng đồng với Thần chú trong kinh, nhưng về âm Phạn cũng có vài chữ khác biệt chút ít.
“Úm, phù hấu khốt lốt, ma ha bát na, ngân na hủ, vẫn phấn vẫn, vĩ hiệt vĩ, ma na thê, ô thô mồ khốt lốt, hồng hồng hồng, fát fát fát tóa ha.”

THẦN BIẾN DIÊN MẠNG PHÁP


Người bịnh liên miên, viết bùa này nơi tim (ngực) họ, thì bịnh liền lành.
“Ðại kiết cấp cấp như luật lịnh.”
Ðau tim, viết bùa này lập tức liền trừ lành. “Ðại kiết lợi cấp cấp như luật lịnh.”
Trước tụng chú bảy biến.
Bịnh quỷ, lấy màu đỏ viết cho uống đó.
Người bị bịnh Tinh mị quỷ, lấy màu đỏ, viết bảy lá lớn cho uống liền lành, rất thần nghiệm.
Nếu người làm pháp này, lấy vải sa tanh trắng (một trượng bảy) 10m7 tấc, đem giặt cho thật trắng, để trong Ðại luân thế giới (quả địa cầu) khiến người sống lâu 70 tuổi. Nếu không có người làm được vậy, thì ở trong chính giữa sân nhà, đào đất 7 thước, chôn vải ấy thì được thông minh, tăng trưởng trí huệ, biện tài vô ngại.
Bảy chữ bùa này có công năng trị vạn bịnh, viết mà uống đó, khiến cho người sống lâu, tăng trưởng trí huệ rất đại thần nghiệm.
Bảy chữ bùa này, dùng màu đỏ viết trên giấy, uống 1000 cái (vò viên bằng múi cam) khiến người sống lâu ngang bằng trời đất. Khi làm pháp này không được cho người thấy.
Bảy chữ bùa trên, nếu có người bị các thứ bịnh, viết bùa này uống đều được trị lành. Nếu người viết bùa này uống đó thì được sống lâu, tăng trưởng trí huệ, rất đại thần nghiệm vậy.
Bảy chữ bùa trên, nếu có cầu các thứ trân bảo, dùng màu đỏ viết bùa này uống, cho mãn bảy ngày thì có các thứ trân bảo tự nhiên đem đến. Nếu cầu tài vật của người, viết tên họ người ấy để dưới bùa này thì người kia liền đem tài vật dâng đến.
Ba chữ bùa trên, dùng màu đỏ viét, dán trên bốn chân giường, thì thường có tám vị đại Kim Cang theo gia hộ, không tạm bỏ rời. Nhưng phải uy nghiêm, thanh tịnh, không được cho các vật ô uế vào phòng, phải cẩn thận dè dặt đó.
Khi có nạn lửa lớn bốc cháy, viết chữ bùa này ném vào đó, tụng chú 108 biến, hướng có nạn lửa ấy tự nhiên tắt.
Khi có gió lửa ác nổi lên (bão lửa) viết bùa này, chú 108 biến, ném vào hướng gió đó, thì ác kia liền diệt.
Khi có nước lớn nổi lên, viết bùa này ném vào trong nước lớn đó, lập tức dứt nước chảy, không làm chìm người được.
Khi có mưa lụt lớn, viết bùa này, chú 108 biến ném vào hướng có mưa đó, lập tức đình lại.
Dùng màu đỏ viết bùa này, uống ba lá thì mới có thể viết bùa cho người khác, tức có linh nghiệm.
Nếu không làm như vậy, dùng các bùa đều vô nghiệm.
Ðây là chày Kim Cang! Các vị tu về pháp Kim Cang, lấy gỗ thơm, y đây mà đẽo chày.
Bấy giờ Ngài Uế Tích Kim Cang nói pháp này rồi đại chúng thêm phần vui mừng, cùng chư Thiên Long, đại quỷ thần v.v… vâng lời dạy mà làm lễ lui về.
LỜI PHỤ: Bổn kinh cũ, Thần chú có bốn mươi ba chữ. Ðời Ðường vua Thái Tôn, nhiều người trì quá linh nghiệm, cho nên bỏ bớt mười chữ. Nay lục trong bổn cũ ra, khiến mau được linh nghiệm, không chú nào qua Thần chú này:
“Úm, bút quát hốt lốt, ma ha bát ra ngân na, ngái vẫn trấp vẫn, hê ma ni, vĩ hiệt vĩ ma na thê. Úm, chước cấp na, ô thâm một hốt lốt, hùm hùm hùm, phấn phấn phấn phấn phấn, tóa ha.”
Ngài Chơn Giác đàn sư, truyền Thần chú này, cũng đồng với Thần chú trong kinh, nhưng về âm Phạn cũng có vài chữ khác biệt chút ít.
“Úm, phù hấu khốt lốt, ma ha bát na, ngân na hủ, vẫn phấn vẫn, vĩ hiệt vĩ, ma na thê, ô thô mồ khốt lốt, hồng hồng hồng, fát fát fát tóa ha.”